Chuyến Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV tới Pháp và chuyến viếng thăm Trụ sở UNESCO (25–28 tháng 9 năm 2026) – Thăm Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO), 25.09.2026
*******
Thăm Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO)
Vào lúc 14 giờ 45, Đức Thánh Cha di chuyển bằng xe hơi đến trụ sở UNESCO. Khi đến Phòng Danh dự Pavillon d’Honneur, ngài được ông Khaled Ahmed El-Enany Ali Ezz, Tổng Giám đốc UNESCO, và Đức ông Roberto Campisi, Quan sát viên Thường trực của Tòa Thánh tại cùng cơ quan này, đón tiếp. Sau đó, tại Sảnh Ségur, ngài chào Chủ tịch Đại hội đồng, Chủ tịch Hội đồng Điều hành, Phó Tổng Giám đốc và Trợ lý Tổng Giám đốc phụ trách Khu vực Ưu tiên châu Phi. Tiếp đến là ký Sổ Vàng và tặng quà lưu niệm.
Một cuộc gặp song phương đã diễn ra tại thư viện giữa ông Tổng Giám đốc và Đức Thánh Cha Lêô XIV, với sự hiện diện của Phó Tổng Giám đốc, các Trợ lý Tổng Giám đốc, phái đoàn của Đức Thánh Cha và Quan sát viên Thường trực.
Đức Thánh Cha chào các thành viên của Phái đoàn Thường trực, rồi ghé thăm ít phút Quảng trường Khoan dung (Square de la Tolérance). Sau đó, Đức Thánh Cha cùng với Tổng Giám đốc tiến vào Hội trường I, đi qua Salle des pas perdus, nơi trưng bày các tác phẩm nghệ thuật đại diện cho các nhóm khu vực của UNESCO nhân dịp này.
Sau lời chào mừng của Tổng Giám đốc, Sổ Hòa bình được trao tặng cho Đức Thánh Cha. Tiếp đó, Đức Thánh Cha Lêô XIV đọc diễn văn.
Khi rời đi, Đức Thánh Cha chào một số nhân viên UNESCO, rồi di chuyển bằng xe mui trần đến Nhà thờ Đức Bà để cử hành giờ Kinh Chiều với các giám mục, linh mục, phó tế, nam nữ tu sĩ và chủng sinh.
Sau đây là diễn văn Đức Giáo hoàng Lêô XIV trong chuyến viếng thăm Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc:
Diễn văn của Đức Thánh Cha
Thưa ngài Tổng Giám đốc,
Thưa ngài Chủ tịch Đại hội đồng,
Thưa ngài Chủ tịch Hội đồng Điều hành,
Thưa quý vị Đại diện Thường trực,
Kính thưa quý bà và quý ông,
Tôi rất vui được có mặt cùng quý vị hôm nay tại đại hội đồng quốc tế này, nơi các ngôn ngữ và các nền văn hóa hội tụ để cùng hợp tác trong một công cuộc có tầm quan trọng lớn lao đối với toàn thể gia đình nhân loại: “góp phần vào hòa bình và an ninh bằng cách thúc đẩy sự hợp tác giữa các quốc gia thông qua giáo dục, khoa học và văn hóa, nhằm tăng cường sự tôn trọng phổ quát đối với công lý, pháp quyền và… các quyền con người và tự do căn bản” (Hiến chương UNESCO, điều 1, khoản 1). Thật vậy, nỗ lực xây dựng một thế giới công bằng là nền tảng của sự hợp tác quốc tế. Chúng ta chia sẻ những kinh nghiệm, kỹ năng và chuyên môn nhằm tạo ra một môi trường trong đó mọi người đều cảm thấy như ở nhà mình, và mỗi cá nhân có thể phát triển toàn diện, để các dân tộc ở khắp nơi được sống trong hòa bình và thịnh vượng.
Với tư cách là một chứng nhân của hòa bình, tôi xin gửi lời chào đến từng người trong quý vị, đại diện của các Quốc gia Thành viên và Quan sát viên, các Tổ chức Quốc tế, cùng giới học thuật và xã hội dân sự. Tôi cảm ơn ông Khaled El-Enany, Tổng Giám đốc của Tổ chức này, vì lời mời trọng thị [và những lời tốt đẹp của ông]. Tôi đến đây với tư cách là một Mục tử, để nói với quý vị nhân danh Giáo hội, một Giáo hội không ngừng tìm cách đối thoại và có một thông điệp muốn chia sẻ với mọi dân tộc, với tất cả những người thiện chí (x. Phaolô VI, Thông điệp Ecclesiam Suam, 65).
Cam kết xây dựng một thế giới công bằng là một phần của sứ mạng mà chúng ta đã học cách cùng nhau gánh vác trong dòng lịch sử. Trong thời đại chúng ta, UNESCO vừa đại diện cho một mục tiêu vừa là một phương thế để theo đuổi cam kết đó với quyết tâm lớn hơn, phù hợp với những lĩnh vực hoạt động đa dạng của chúng ta. Năm 2027 sẽ đánh dấu kỷ niệm 75 năm sự hiện diện của Tòa Thánh tại UNESCO, một sự hiện diện đặt nền tảng trên niềm tin rằng tương lai phụ thuộc trước hết vào việc tôn trọng và cổ võ phẩm giá bất khả xâm phạm vốn thuộc về mỗi người nam và người nữ được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. Vì thế, chúng tôi nhìn nhận Tổ chức này như một đối tác ưu tiên trong việc phục vụ ích chung, vốn là “sự biểu hiện xã hội của phẩm giá” mà tất cả chúng ta cùng chia sẻ ngay từ ban đầu và trong sự bình đẳng (x. Thông điệp Magnifica Humanitas, 59). Từ năm 1952, Phái đoàn Quan sát viên Thường trực của Tòa Thánh đã nghiên cứu và đồng hành với các sáng kiến của UNESCO từ góc nhìn này, đưa ra những đóng góp cụ thể vào cuộc đối thoại giữa các quốc gia. Phái đoàn đã làm như vậy nhằm cổ võ sự phát triển đích thực của con người, một sự phát triển chỉ thực sự đúng nghĩa khi hướng đến việc thúc đẩy “sự phát triển của mỗi con người và của trọn vẹn con người” (Đức Phaolô VI, Thông điệp Populorum Progressio, 14).
Phát biểu trước đại hội đồng này, vị tiền nhiệm đáng kính của tôi, Thánh Gioan Phaolô II đã nhận định rằng “genus humanum arte et ratione vivit.” Vì thế, “con người sống một cuộc sống thực sự nhân bản là nhờ văn hóa.”[1] Bản thân từ văn hóa hàm ý một tiến trình qua đó nhân loại trao tặng ý nghĩa cho mọi hoạt động của mình. Bây giờ, bốn mươi sáu năm sau, trước sự hiện diện của quý vị, khi tôi lặp lại cam kết hợp tác của Tòa Thánh, tôi khuyến khích quý vị nhìn nhận UNESCO không chỉ như một tổ chức quốc tế ưu tú, mà còn như một nơi để nhân loại suy tư về chính mình, về lịch sử và về tương lai của mình. Thật vậy, việc thúc đẩy giáo dục, khoa học và văn hóa là điều không thể thực hiện nếu đồng thời không cải thiện đời sống của những người nam nữ đang dấn thân trong các hoạt động này.
Trong lãnh vực giáo dục, Giáo hội Công giáo là người thừa kế một truyền thống lâu đời. Qua nhiều thế kỷ, các cộng đồng của Giáo hội đã thành lập các trường học và đại học, dạy con người đọc và viết, đồng thời hiện diện ngay cả ở những nơi nghèo khó và xa xôi nhất. Với Hiệp ước Toàn cầu về Giáo dục, vị tiền nhiệm của tôi là Đức Giáo hoàng Phanxicô đã tìm cách đưa kinh nghiệm này trở thành một phần của giao ước giáo dục rộng lớn hơn, mở ra cho sự đóng góp của tất cả mọi người. Tuy nhiên, điều tôi muốn nói với quý vị không chủ yếu về những nỗ lực đã được thực hiện, mà đúng hơn là về sự xác tín làm nền tảng cho những nỗ lực ấy. Không một nền giáo dục nào có thể được xem là hoàn chỉnh nếu không giải quyết câu hỏi về ý nghĩa của cuộc sống. Trong cùng bài diễn văn được nhắc đến ở trên, Thánh Gioan Phaolô II đã lưu ý rằng giáo dục có nghĩa là giúp con người “trở thành” nhiều hơn chứ không chỉ đơn thuần là “có” nhiều hơn, và nhận ra nơi họ tính siêu việt của nhân vị, vốn là một phần tạo nên sự viên mãn của nhân tính (x. sđd., 10–11).
Vì thế, trong đại hội đồng này, có một câu hỏi nền tảng đáng được khám phá, một câu hỏi đang khẩn thiết đòi một lời giải đáp: Con người là gì? Mọi nền văn hóa đều phải đối diện với câu hỏi này, bởi nó nằm ở trung tâm của mọi hình thức tri thức, mọi hình thức nghệ thuật và tôn giáo. Xét cho cùng, ngay cả trong thế kỷ XXI, chúng ta cũng không thể mặc nhiên cho rằng mình đã biết con người là ai hoặc sống như một con người có nghĩa là gì. Thật vậy, mỗi thế hệ đều được mời gọi đối diện với câu hỏi này, đặc biệt trước những thảm kịch đáng tiếc vẫn đang xảy ra ngay cả ngày nay.
Trước hết, con người là một người được thụ thai và được sinh ra. Vì thế, trước tiên, làm người có nghĩa là trở thành một đứa trẻ. Không ai trong chúng ta đã chọn điều đó. Không ai trong chúng ta quyết định mình được sinh ra từ ai, vào lúc nào hay ở đâu. Sự thật hiển nhiên này làm sáng tỏ một điều không đơn thuần thuộc về sinh học mà còn mang tính luân lý: là con cái, tất cả chúng ta đều là anh chị em với nhau. Ngay từ đầu, nhân tính của chúng ta là một quà tặng và là một thử thách, một lời hứa và một trách nhiệm. Đối với mỗi con người, sự sinh nở thiết lập một mối dây nguyên thủy — một sự hiệp thông sự sống có nguồn cội, đồng thời là môi trường giáo dục đầu tiên, nơi gia đình.
Thứ hai, tất cả chúng ta đều sinh ra trong tình trạng trần trụi và thiếu thốn. Chúng ta nghèo ngay từ khi sinh ra, cần đến bánh ăn và lời nói, cần sự chăm sóc và tình thương — nghĩa là cần tất cả những gì nuôi dưỡng thân xác và tinh thần. Chúng ta biết rõ điều này, thế nhưng, khi trở thành người trưởng thành, chúng ta có nguy cơ quên nó. Chính những người túng thiếu lại là những người phải chịu hậu quả nặng nề nhất của sự lãng quên ấy, bất cứ khi nào nhân tính của họ bị phản bội hay gạt bỏ, bị bóc lột hoặc lừa dối. Quên đi hoàn cảnh mình được sinh ra sẽ làm lu mờ chính khái niệm về sự sống con người, bởi vì nó tách sự sống khỏi lịch sử chung của tất cả chúng ta. Khi ấy, sự sống không còn được hiểu như một ân ban, mà như một món hàng. Nó không còn được nhìn nhận như một lời mời gọi chăm sóc và trách nhiệm, mà như một sản phẩm để bóc lột. Quả thật, sự thay thế thảm hại này nhắc nhở chúng ta rằng làm người có nghĩa là tự bản chất được tự do. Vì tất cả chúng ta đều đã từng là những đứa trẻ, nên tự do của chúng ta bắt đầu từ sự đáp lời của mình đối với tự do của người đầu tiên hướng đến chúng ta — dù bằng những cử chỉ trìu mến hay khước từ, đón nhận trong yêu thương hay bỏ mặc và tàn nhẫn.
Thứ ba, gìn giữ ký ức về nhân tính chung của chúng ta là nhìn nhận tính cao cả của nó — nghĩa là tiềm năng vô cùng lớn lao của nó — cho dù nó bị suy giảm bởi nhiều hình thức của sự dữ và bất công. Những người hoạt động trong các lãnh vực giáo dục, khoa học và văn hóa càng được mời gọi chăm sóc cho từng con người, để vẻ đẹp tự do của chúng ta được tỏa sáng. Vẻ đẹp ấy có một tên gọi: công lý. Tự do quả thật rất đẹp khi nó hướng về điều thiện và sự thật; nó bị biến dạng khi rơi vào sự độc đoán, bạo lực hoặc khát khao quyền lực. Vì thế, làm người bao hàm một trách nhiệm trước lịch sử: con người là hữu thể lớn lên, học hỏi và làm việc bằng cả đôi tay lẫn trí óc. Bằng lao động đó, chúng ta có thể canh tác trái đất hoặc làm nó biến dạng, tạo ra các tác phẩm nghệ thuật hoặc phá hủy chúng. Tại thời điểm đặc biệt này, chúng ta phải nhìn nhận rằng “tác phẩm của con người” khủng khiếp nhất chính là chiến tranh, vì khi đó chính khoa học được đưa vào để phục vụ cho một ý chí vô nhân muốn phá hủy và tàn sát.
Về phương diện này, Lời Mở đầu của Hiến chương UNESCO bắt đầu bằng những lời ngày nay vẫn còn mang tính thời sự mạnh mẽ — như chúng ta đã thấy tại “Bức tường Hòa bình” —: “Vì chiến tranh bắt đầu trong tâm trí con người, nên chính trong tâm trí con người phải xây dựng những thành lũy bảo vệ hòa bình” (Hiến chương UNESCO, Lời Mở đầu, 1945). Những lời này được viết trong bối cảnh hậu Chiến tranh Thế giới thứ II, thảm kịch tàn khốc nhất của thế kỷ trước. Nhân loại đã nhận ra rằng tiến bộ khoa học, khi bị tách rời khỏi sự khôn ngoan, có thể biến thành một vũ khí hủy diệt; rằng văn hóa, khi bị đặt dưới sự chi phối của ý thức hệ, có thể thoái hóa thành sự dối trá và tuyên truyền; và rằng giáo dục, khi từ bỏ chân lý, có thể trở thành công cụ thao túng lương tâm. Các quốc gia sáng lập UNESCO hiểu rằng những hiệp ước là cần thiết, nhưng tự thân chúng chưa đủ. Các hiệp ước cần một nền văn hóa hòa bình và một cam kết chung đối với hòa bình để duy trì chúng. Hòa bình không thể được xây dựng chỉ bằng các hiệp ước, cũng không bằng những thỏa hiệp giữa các lực lượng đối lập. Hòa bình trở thành đích thực khi nó tuôn trào từ nhân đức công lý, không thuần túy từ một hợp đồng, và từ một ý chí ngay chính chứ không phải từ một thế cân bằng mong manh giữa các lợi ích. Thật vậy, chỉ một ý chí ngay chính mới có khả năng nhận ra nơi người khác một người anh em hay một người chị em, một con người giống như chính mình.
Tám mươi năm sau, những lời trong Hiến chương sáng lập của quý vị vẫn không mất đi sức mạnh của nó. Tuy nhiên, chúng ta cũng thấy nguyên tắc chung này đang bị đe dọa sâu sắc như thế nào bởi những hình thức tàn ác đang kích động sự kình địch và xung đột. Trong số những thách thức mà thế giới khoa học và giáo dục ngày nay phải đối diện, tôi muốn đặc biệt lưu ý đến những thách thức phát sinh từ lãnh vực rộng lớn của công nghệ. Những nỗ lực của chúng ta trong lãnh vực này phải bảo đảm rằng công nghệ mới phải luôn phục vụ con người, thay vì trở thành một công cụ khác của sự thống trị và bất công.
Qua nhiều thế kỷ, nhiều công việc từng do con người thực hiện đã được giao cho máy móc, và năng lực cũng như các ứng dụng của chúng không ngừng mở rộng. Gần đây hơn, một số hệ thống nhân tạo thậm chí còn được đặt tên theo chính năng lực tư duy của chúng ta: trí tuệ. Nhưng đồng thời, những ý tưởng và các mối tương quan của chúng ta có nguy cơ trở nên nghèo nàn bởi một tiến trình phi nhân hóa (dehumanization). Nghịch lý ngày càng trở nên rõ ràng: trong khi “trí tuệ” được gán cho các hệ thống tính toán, chúng ta lại phải chật vật để nhận ra phẩm giá bất khả xâm phạm của con người, khi đời sống của họ bị đánh giá theo tiêu chuẩn năng suất. Và một khi bị coi là không còn năng suất, họ bị loại trừ và vứt bỏ.
Thực tại đau đớn này mời gọi chúng ta suy tư về sự mỏng giòn của bản tính con người, và về phẩm giá vô cùng lớn lao của nhân vị — một phẩm giá vẫn không hề suy giảm ngay cả trong những hoàn cảnh dễ bị tổn thương nhất, cho đến chính cái chết. Con người chắc chắn là người được sinh ra, nhưng cũng là người phải chết. Phẩm giá của chúng ta không bị phá hủy bởi bệnh tật hay đau khổ, cũng không phụ thuộc vào năng lực của chúng ta. Trái lại, phẩm giá ấy đòi hỏi sự chăm sóc đầy yêu thương trong mọi giai đoạn của cuộc đời.
Đối với đức tin Kitô giáo, mầu nhiệm con người tìm thấy ánh sáng trọn vẹn nhất nơi Đức Kitô, Đấng “trong chính việc mạc khải về mầu nhiệm của Chúa Cha và tình yêu của Người, đã tỏ cho con người biết trọn vẹn về chính mình và cho thấy ơn gọi cao cả của mình” (CÔNG ĐỒNG CHUNG VATICANÔ II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, 22). Trong ánh sáng của Người, mỗi người xuất hiện trước chúng ta như một thụ tạo được Thiên Chúa muốn có và yêu thương. Ánh sáng này cũng giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn ý nghĩa của kinh nghiệm con người chung của chúng ta.
Kính thưa quý vị, với tư cách là những nhà khoa học, quý vị được mời gọi không ngừng cộng tác nhân danh lịch sử chung của chúng ta, để từ sự đa dạng của các góc nhìn có thể hình thành một sự hội tụ trong tầm nhìn, và từ sự hội tụ ấy là sự hòa hợp trong hành động. Sự hòa hợp này được diễn tả trong công cuộc của UNESCO khi Tổ chức này cất lên tiếng nói giao hưởng cho những khát vọng cao cả nhất vì sự thiện và việc chăm sóc nhân loại. Nơi nào có sự hòa hợp, nơi đó những tiếng nói khác nhau tìm được sự đồng thuận, và các quốc gia mà quý vị đại diện nhờ đó được quy tụ trong sự hòa hợp.
Về phương diện này, tôi muốn gợi lên hai hình ảnh trong Kinh Thánh, là kho tàng văn hóa vĩ đại của nhân loại. Đó là tháp Babel và quảng trường trong ngày Lễ Ngũ Tuần. Tôi đưa ra hai hình ảnh này như những cách diễn tả sự hiệp nhất của gia đình nhân loại, một gia đình mà ngay cả hôm nay vẫn không ngừng được mời gọi phân định hướng đi đúng đắn và ý nghĩa của lịch sử mình đang sống trong đó. Những trình thuật Kinh Thánh này mô tả hai hình thức đời sống xã hội, mời gọi chúng ta suy tư về hoàn cảnh của chính thời đại chúng ta.
Tháp Babel tượng trưng cho một sự thống nhất bị áp đặt bằng việc thống trị (x. St 11:4). Đồng thời, công trình này cho thấy quyền lực càng tìm cách áp bức thì nó càng làm suy yếu chính mình, phơi bày bộ mặt vô nhân của nó. Chúng ta thấy điều đó trong những đau khổ và bất công do chế độ độc tài gây ra, cũng như trong những hình thức bóc lột làm tổn hại cả xã hội lẫn môi trường. Như lịch sử dạy chúng ta, nhiều đế quốc đã say sưa với quyền lực của họ trước khi bị chính quyền lực ấy nuốt chửng và sụp đổ như một ngọn tháp. Kết cục của lòng kiêu ngạo đó, được tán dương rồi bị hạ xuống, là sự phân tán. Lòng tự phụ muốn trở nên như Thiên Chúa và bắt các dân tộc phải mang một ách chung dẫn đến sự hỗn loạn về ngôn ngữ và tình trạng không thể hiểu nhau. Thay vì vươn tới trời cao như nó tưởng, tháp Babel đã sụp đổ, kéo theo một hệ quả tiêu cực hai mặt. Vì sự thống nhất mà nó áp đặt là cưỡng ép, nên sự đa dạng xuất hiện sau khi nó sụp đổ đã trở thành nguồn gốc của xung đột. Ngày nay, cám dỗ Babel lại xuất hiện trong một sự toàn cầu hóa được thực hiện mà không có tình huynh đệ, trong những hình thức của chủ nghĩa tân thực dân tham lam, trong những áp đặt ý thức hệ và trong tất cả những “tiếp xúc không có ràng buộc” biến đời sống con người thành hoạt động thương mại (x. ỦY BAN THẦN HỌC QUỐC TẾ, Quo Vadis, Humanitas?, 42). Chính khoa học, khi bị giản lược thành một kỹ thuật của quyền lực, không còn phục vụ để nâng cao nhân vị, mà trái lại có nguy cơ hạ thấp các thành quả của nỗ lực của con người.
Đặc biệt ngày nay, chúng ta có những phương tiện để kết nối con người và các châu lục với nhau tức thời, nhưng đồng thời chúng ta lại chứng kiến những hình thức cô lập mới, nghèo đói vật chất và tinh thần, và sự bỏ rơi. Truyền thông đã trở nên nhanh hơn rất nhiều, nhưng chưa hẳn là trung thực hơn. Thông tin dồi dào, nhưng nó không đồng nghĩa với sự khôn ngoan. Nếu không có một nền tảng đạo đức chung, nhiều kênh truyền thông có nguy cơ làm gia tăng thông tin sai lệch và phổ biến những lời nói trống rỗng không có ý nghĩa, từ đó cản trở đối thoại thay vì thúc đẩy nó.
Trí tuệ nhân tạo làm trầm trọng thêm vấn đề này. Mặc dù các hệ thống như vậy có thể tương quan hóa dữ liệu, chúng không thể trả lời các câu hỏi liên quan đến ý nghĩa đời sống con người, vốn bắt nguồn trong kinh nghiệm sống. Thế nhưng con người không thể sống không có ý nghĩa. Ý nghĩa là dưỡng khí của tâm trí. Vì lý do này, những thách đố của truyền thông, đồng thời cũng là những thách đố của giáo dục, làm cho việc tìm kiếm chân lý trở thành một vấn đề của công lý xã hội và công bằng lịch sử. Đó là lý do tại sao giáo dục trong lĩnh vực này là thiết yếu, và tôi hoan nghênh sáng kiến của UNESCO thông qua chương trình Năng lực Truyền thông và Thông tin (MIL), nhằm thúc đẩy việc sử dụng các phương tiện truyền thông và công cụ kỹ thuật số có trách nhiệm.
Thật vậy, nếu không có chân lý, ngôn ngữ sẽ trở thành đối tượng của luận lý bạo lực và ý chí độc đoán của kẻ mạnh. Khi ấy, những người khác bị loại trừ nhân danh lợi nhuận, và người vô tội bị giết nhân danh tự do. Thay vì tôn trọng pháp luật, những người nắm quyền viện dẫn luật khi nó phục vụ lợi ích của họ và phớt lờ luật khi luật hạn chế họ, đối xử ngay cả với công lý như thể nó là một món hàng để mua bán. Nếu chúng ta nhận ra rằng sự tha hóa của pháp luật bắt đầu từ sự tha hóa của tâm hồn, chúng ta có thể nhận ra mỗi ngành khoa học có nguy cơ mất đi ý nghĩa đúng đắn của nó như thế nào khi được theo đuổi mà không có đạo đức, và do đó không còn phục vụ và phản ánh phẩm giá con người.
Về phương diện này, tôi khuyến khích toàn thể cộng đồng quốc tế đặc biệt dành sự quan tâm đến việc bảo vệ trẻ em và người trẻ. Trong thời đại kỹ thuật số, tính dễ bị tổn thương của họ không bao giờ được phép trở thành cơ hội cho sự bóc lột. Ước gì các công nghệ này hỗ trợ sự phát triển, giáo dục và các mối tương quan của họ, bảo vệ quyền tự do suy nghĩ và phân định của họ, đồng thời luôn phục vụ phẩm giá con người.
Sự tha hóa của văn hóa mà chúng ta đang suy tư tìm thấy sự cứu chuộc nơi quảng trường của Lễ Ngũ Tuần. Tại đó, một thông điệp bình an được mọi dân tộc đón nhận như Tin Mừng. Thông điệp này công bố sự phục sinh của Đức Giêsu, nghĩa là chiến thắng của sự sống trên sự chết và ơn cứu độ đem lại niềm hy vọng cho thế giới. Vào ngày Lễ Ngũ Tuần, quảng trường công cộng trở thành nơi mà sự bình an chữa lành mọi xúc phạm đối với con người được cử hành. Mỗi người hiện diện đều nghe thông điệp “bằng tiếng mẹ đẻ của mình” (x. Cv 2:8). Sự hiệp thông tuyệt nhiên không triệt tiêu sự đa dạng. Trái lại, nó làm cho sự đa dạng được triển nở trong sự hòa hợp của các tiếng nói và khuôn mặt.
Khi công bố hòa bình, sự phong phú của các nền văn hóa trở thành phương tiện mang theo chân lý phổ quát. Như vậy, giáo huấn Thánh Kinh chỉ cho chúng ta con đường để đạt được điều tất cả chúng ta cùng tìm kiếm: “sự hiệp nhất không xóa bỏ những khác biệt nhưng trân trọng lịch sử cá nhân của mỗi người và nền văn hóa xã hội và tôn giáo của mọi dân tộc” (Bài giảng trong Thánh lễ khởi đầu sứ vụ tông đồ của Đức Giáo hoàng, 18 tháng 5 năm 2025). Không phải sự thống trị của Babel, nhưng là sự bình an của Lễ Ngũ Tuần làm cho sự hiệp thông giữa mọi dân tộc trở nên khả thi. Vì thế, mỗi nền văn hóa đạt tới sự khôn ngoan cao nhất của mình khi tìm kiếm hòa bình và thiện ích cho mọi người, làm chứng cho ý nghĩa đích thực của nhân tính chúng ta.
Những người dấn thân trong giáo dục đều biết rằng chỉ có sự thật mới giải phóng chúng ta. Những người giảng dạy và nghiên cứu đều biết rằng sai lầm biến chúng ta thành nô lệ của sự dốt nát và mê tín. Bất cứ khi nào gặp phải những trở ngại đối với sứ mạng của mình, chúng ta hãy nhớ rằng chỉ có một trái đất cho tất cả mọi người và một bản tính nhân loại chung. Không thể hiểu con người bằng cách tách rời những gì thuộc về nhau: thân xác và linh hồn, đời sống cá nhân và các mối tương quan, mối tương quan của chúng ta với tha nhân và với môi trường. Tất cả đều tạo thành một phần của sự hiệp nhất trong sự tồn tại của chúng ta. Vì lý do này, canh tác trái đất cũng có nghĩa là vun trồng nhân loại đang cư ngụ trên đó. Giáo dục và khoa học được kêu gọi thực hiện nhiệm vụ này. Thật vậy, không phải ngẫu nhiên mà mọi nền văn hóa, theo chính nguyên ngữ của từ ngữ này, đều là một hành vi vun trồng. Vì thế, tôi nhắc lại lời kêu gọi của các vị tiền nhiệm của tôi, hãy cùng nhau chăm sóc con người và công trình tạo dựng: Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã nói về sự cần thiết của một nền sinh thái nhân vị, trong khi Đức Giáo hoàng Phanxicô phát triển góc nhìn về sinh thái toàn diện (x. Bênêđictô XVI, Diễn văn trước Bundestag, 22 tháng 9 năm 2011; Phanxicô, Thông điệp Laudato Si’, 137–162).
Tiêu chuẩn để chúng ta có thể đánh giá cam kết của mình chính là sự chăm sóc chúng ta dành cho những người bé mọn nhất và người nghèo: những đứa con trong bụng mẹ và ở giữa các chiến trường, những người khuyết tật thể lý và trí tuệ, người cao tuổi, những người di cư và tị nạn, cùng tất cả những ai bị loại trừ một cách ngạo mạn vì bị coi là không có năng suất. Họ là phép thử thật sự cho những lời tuyên bố của chúng ta về việc tôn trọng phẩm giá con người, và việc bảo vệ cũng như thăng tiến họ đồng thời mở rộng sang công trình tạo dựng. Đối nghịch với điều này là ý chí bóc lột và cướp phá, bòn rút càng nhiều càng tốt từ mọi sinh vật, tiêu thụ mà không bảo vệ, phá hủy mà không vun trồng. Vì thế, cuộc khủng hoảng sinh thái hiện nay là một cuộc khủng hoảng nhân học; hơn nữa, Giáo hội xác tín rằng mỗi nền văn hóa đều mang trong mình một sự khôn ngoan được trưởng thành trong một hệ sinh thái của các dân tộc. Môi trường sống của con người là xã hội — không chỉ đơn thuần là một môi trường vật chất, như sa mạc hay đại dương đối với các loài vật, mà còn là một môi trường luân lý và tương quan. Nơi nào hòa bình xã hội ngự trị, nơi đó các dân tộc được triển nở trong công lý.
Tại đây, những sứ mạng giáo dục và khoa học cao cả của UNESCO tìm thấy mục tiêu tối hậu của mình: trong công cuộc kiên trì xây dựng hòa bình. Giữa nhiều vấn đề phức tạp và cấp bách của thời hiện tại, thế giới chúng ta nhìn nhận các thể chế quốc tế với những cảm xúc đan xen. Một mặt, các thể chế này được kỳ vọng đáp ứng những thách đố mà không một quốc gia riêng lẻ nào có thể tự mình đối diện. Mặt khác, chính các thể chế này đang trải qua một cuộc khủng hoảng về tính hiệu quả, đặc biệt trong những tình huống mà đối thoại bị coi là một trở ngại cho hành động thay vì là nguồn lực phục vụ hòa bình, là một trò hề hơn là cơ hội cùng nhau tìm kiếm ích chung. Trong trường hợp này, chúng ta nhận thấy nhu cầu cấp bách phải cổ võ một nhân đức dường như được mong muốn rất nhiều nhưng lại hiếm khi được tìm thấy, đó là nhân đức tin tưởng. Tin tưởng rằng những khác biệt không nhất thiết cấu thành một mối đe dọa; tin tưởng rằng đối thoại chân thành có thể đem lại một điều tốt đẹp lớn hơn những gì các cá nhân có thể tự mình đạt được. Tòa Thánh mong muốn gia tăng sự tin tưởng này vào UNESCO, cũng như vào các tổ chức quốc tế khác, trong nhận thức rằng mỗi dân tộc đều có một phần đóng góp quý giá riêng trong việc theo đuổi sự tiến bộ đích thực của con người mà chỉ có hòa bình mới có thể bảo đảm. Đây không phải là việc đón nhận một chủ nghĩa lạc quan ngây thơ, lờ đi những khó khăn, nhưng là kiên trì trong niềm hy vọng rằng thiện ích mong muốn luôn có thể đạt được. Mỗi đứa trẻ được sinh ra trên thế giới này đều mang đến một niềm hy vọng mới. Mỗi người hiến dâng cuộc đời mình để tìm kiếm chân lý đều đang thực hiện một hành vi của niềm hy vọng. Về phần mình, ước mong UNESCO làm chứng cho niềm hy vọng này bằng cách thúc đẩy sự hiểu biết giữa các quốc gia thông qua đối thoại giữa các nền văn hóa của họ. Vì chúng ta tin tưởng rằng giáo dục là con đường để vượt qua sự nghi ngờ lẫn nhau và rằng khoa học có thể phục vụ mọi con người, gieo những hạt giống hôm nay sẽ mang đến một mùa gặt dồi dào trong tương lai. Sự tin tưởng này củng cố niềm hy vọng của chúng ta vào đức ái, vào sự dấn thân cho thiện ích của người lân cận. Vì nếu tất cả chúng ta cam kết kiên định cho sự cao cả của nhân tính chung, thì hòa bình cuối cùng có thể triển nở.
Khi chúng ta cùng hợp tác trong công cuộc này, các truyền thống tôn giáo có một vai trò cần thiết và không thể thay thế về mặt văn hóa. Các tôn giáo cất lên tiếng nói cho những câu hỏi của chúng ta về nguồn gốc của sự sống và mục đích của nó. Các tôn giáo giải quyết ý nghĩa tối hậu của đời sống chúng ta, được phản ánh trong những quyết định hàng ngày. Khi những người nam và người nữ thiện chí hướng hành động của họ về Thiên Chúa, thì trong ánh sáng của Người, những điểm khác biệt văn hóa của họ không bị tan biến vào sự hỗn loạn của Baben. Thay vào đó, họ thấy mình được hiệp nhất trong cuộc tìm kiếm ý nghĩa chung và hướng về một cùng đích không phải là sự chết. Chúng ta không hành trình tiến về sự hư vô. Đó là lý do tại sao tinh thần con người, trong mối tương quan với Thiên Chúa, càng cảm nhận sâu sắc hơn lời mời gọi vun đắp hòa bình thông qua một giao ước giữa các dân tộc nhận ra rằng họ là con cái của cùng một Cha, là anh chị em của nhau.
Tôi hy vọng rằng cuộc gặp gỡ hôm nay sẽ củng cố tất cả chúng ta trong những nỗ lực nhằm vun đắp một ý thức sống động hơn, sâu sắc hơn và hữu hiệu hơn về việc chúng ta thuộc về một gia đình nhân loại duy nhất. Về phương diện này, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với toàn thể nhân viên UNESCO, những người đang thi hành với năng lực và tận tâm sứ mạng cao quý của Tổ chức là thúc đẩy hòa bình thông qua việc vun trồng mọi ngành nghệ thuật và khoa học của con người.
Tôi gửi những suy tư này đến tất cả quý vị, đến các dân tộc mà quý vị đại diện, và một cách đặc biệt, đến những người trẻ. Thật vậy, chính các thế hệ trẻ là những người quan sát hành động của chúng ta một cách chăm chú nhất. Khi bày tỏ sự ủng hộ của tôi đối với những khát vọng của họ về công lý, với lòng biết ơn và quý trọng, tôi khẩn xin những phúc lành dồi dào của Thiên Chúa, Đấng Tạo hóa Toàn năng và giàu Lòng thương xót đổ xuống trên tất cả quý vị và đất nước của quý vị. Cảm ơn quý vị.
__________________________________
[1] Address to UNESCO, 2 June 1980. Cf. Thomas Aquinas, In Aristotelis Posteriora Analytica, 1.
[Nguồn: vatican.va]
[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 28/09/2026]
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét